Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Á LỆ CHI

 Á LỆ CHI

Long nhãn: Vị thuốc quý giúp an thần, cải thiện giấc ngủ


Tìm hiểu chung

Tên gọi, danh pháp của cây long nhãn

Tên Tiếng Việt: Long nhãn.

Tên khác: Lệ chi nô; á lệ chi; quế viên; mạy ngận; bảo viên; mác nhan.

Tên khoa học: Dimocarpus longan Lour., họ Bồ hòn (Sapindaceae).

Đặc điểm tự nhiên của cây long nhãn

Cây nhãn cao trung bình khoảng 5 - 7 mét, có nhiều cành và lá mọc sum suê. Thân cây xù xì, màu xám. Lá kép hình lông chim, mọc so le gồm 5 - 9 lá chét hẹp dài 7 - 20 cm, rộng 2,5 - 5cm. Hoa thường ra vào các tháng 2 - 3 - 4 và có màu vàng nhạt, thường mọc ở đầu cành hay kẽ lá thành chùm, có đài 5 - 6 răng, tràng 5 - 6, nhị 6 - 10, bầu 2 - 3 ô.

Quả nhãn phát triển từ một ô của bầu thành quả (các ô còn lại của bầu tiêu giảm đi), bên ngoài nhẵn và có màu vàng xám. Phần bên trong quả gồm 1 hạt đen có áo hạt trắng bao bọc. Ở Việt Nam có nhiều loại nhãn khác nhau có thể kể đến như: Nhãn tiêu da bò, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn lồng, nhãn đường phèn, nhãn miền thiết,…

Cùi nhãn mềm và dẻo, có mùi thơm nhẹ, ăn có vị ngọt đậm và khi sờ tay vào không bị dính tay.

Phân bố, thu hái, chế biến

Cây nhãn được trồng rộng khắp nước ta. Trên thế giới có thể tìm thấy nhãn ở các quốc gia như Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Australia, Hoa kỳ. Ở Việt Nam có nhiều giống nhãn khác nhau chủ yếu bởi kích thước và phẩm chất của quả nhưng nhãn ở Hưng Yên là giống nhãn có thể xem là nhiều và quý nhất.

Thu hái, chế biến: Mùa hạ, thu, hái quả nhãn đã chín, cùi dày, ráo nước đem phơi nắng to hoặc sấy nhẹ ở nhiệt độ 40-50°C đến khi lắc quả có tiếng kêu lóc cóc, mang ra bóc vỏ, lấy cùi đã nhăn vàng, rồi sấy ở 50 - 60°C đến khi nắm mật không dính tay (độ ẩm dược liệu dưới 18%) thì bỏ ra, tách rời từng cùi một. Khi bóc phần thịt quả cần đảm bảo vệ sinh và kể cả khi sấy hoặc đem phơi. Có thể trụng qua nước sôi 1 - 2 phút trước khi phơi hoặc sấy áo hạt (phần thịt quả).

Bộ phận sử dụng

Là áo hạt (phần thịt quả) đã sấy hoặc phơi khô - tên khoa học là Arillus Longanae.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

 

A Giao: Dược liệu quý bổ phế, an thai từ da lừa




Công dụng

Theo y học cổ truyền

A giao là một vị thuốc bổ, cầm máu dùng trong mọi trường hợp băng huyết, lỵ ra máu, ho ra máu, đại tiểu tiện ra máu, hồi hộp, mất ngủ. Còn dùng làm thuốc an thai. Ngày dùng 6 - 12 g. Có khi dùng sống, có khi sao với bột vỏ sò, hoặc bồ hoàng rồi mới dùng.

Theo tài liệu cổ A giao có vị ngọt tính bình vào kinh phế can thận. Có tác dụng tư âm dưỡng huyết, bổ phế nhuận táo, cầm máu an thai. Dùng chữa hư lao sinh ho, phế ung thổ ra mủ, ho ra máu, nôn ra máu, ra máu cam, ỉa ra máu, thai sản, băng lậu âm hư, tâm phiền, mất ngủ. Người tỳ vị hư nhược, nôn mửa, ỉa lỏng, tiêu hóa kém không dùng được.

Theo y học hiện đại

Ảnh hưởng đối với chuyển hóa canxi:

Có khả năng cải thiện sự hấp thụ canxi động vật. Cho uống A giao khả năng đông máu không tăng nhưng nếu tiêm dung dịch 5% A giao tiệt trùng thì khả năng đông máu tăng.

Tác dụng tạo máu:

Rút máu chó để gây thiếu máu, rồi chia chó thành 2 lô, một lô cho ăn A giao, một lô không cho ăn. Xét nghiệm hồng cầu và các yếu tố khác của máu. Kết quả A giao làm tăng nhanh lượng hồng cầu và các sắc tố khác của máu.

Tác dụng đối với chứng loạn dưỡng cơ dần dần:

Nghiên cứu nuôi chuột bạch theo một chế độ ăn đặc biệt để gây hiện tượng loạn dưỡng cơ dần dần: Nhẹ thì bị què, nặng thì tê liệt khó đứng dậy. Sau đó cho ăn A giao thì sau hơn 100 ngày, đa số các con vật hết triệu chứng tê liệt so với các con vật khỏe mạnh không khác nhau.

Tác dụng chống choáng:

Tác dụng đã gây choáng đối với mèo, sau đó dùng dung dịch A giao 5% thêm nước muối để giữ đẳng trương và kiềm hóa lọc, đun sôi 30 - 40 phút, đợi nhiệt độ hạ từ từ vào mạch máu, thấy huyết áp trở lại bình thường và con vật được cứu sống.

LƯƠNG Y HOÀNG VĂN QUẬN

  A PHIẾN Anh túc xác: Những điều cần biết về dược liệu bị cấm Anh túc xác là quả thuốc phiện chín sau khi lấy hạt và nhựa rồi phơi hay sấy ...

Lương Y Hoàng Văn Quận