ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
I NGUỒN GỐC - THU HÁI - BẢO QUẢN
1. NGUỒN GỐC
Sự xuất hiện các vị thuốc do kinh nghiệm đấu tranh chống bệnh tật của loài người mà có số lượng chất lượng củ thuốc ngày một tăng lên theo sự tiến bộ của khoa học và nền sản xuất xã hội. Hầu hết các loại thuốc y học cổ truyền đều là sản phẩm của thiên nhiên nguồn gốc từ thực vật - động vật - khoáng vật ( chủ yếu là thực vật ).
Đất nước Việt Nam chúng ta có hơn 11.180.000 hecta rừng, 3260 km bờ biển là nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho các loài thực vật đọng vật phát triển mạnh mẽ. Hệ thống sinh thái rừng biển Việt Nam 12.000 loại cây cỏ thuộc trên 200 họ khác nhau: có hàng ngàn loài chim. 300 loài thú, cá ... Đây là nguồn gốc dược liệu vô cùng phong phú có tác dụng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân và phát triển nền kinh tế xã hội của đát nước.
Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945, với sự tiến bộ không ngừng của nền y tế xã hội chủ nghĩa và nền khoa học Việt Nam, nhiều vị thuốc dân gian kinh nghiệm của y học cổ truyền đã được phát hiện, xác định tên họ và tác dụng chữa bệnh bằng phương pháp khoa học. Một số cây thuốc hoang dại của nước ngoài đã thuần hóa, di thực thành công. Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục công tác sưu tầm, phát hiện các cây thuốc chưa phát hiện được trong nhân dân và nghiên cứu trồng trọt, di thực, thuần hóa các cây thuốc hoang dại, cây thuốc nước ngoài. Với đạc điểm hình thể đất nước trải dài nhiều vĩ tuyến, có nhiều độ cao, khí hậu nhiệt đới, có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, việc thuần hóa, di thực cây thuốc chắc chắn sẽ thu được nhiều kết quả hơn.
2. Thu hái, xử lý:
a. Thu hái: Các bộ phận cây thuốc có thời kỳ sinh trưởng nhất định. Tỷ lệ hoạt chất cao nhất của cây thuốc tùy theo từng bộ phận với thời gian thu hái khác nhau. Theo kinh nghiệm lâu đời, các bộ phận của cây được dùng làm thuốc được tiến hành thu hái như sau:
- Vơ cây: Thu hái vào tháng 4, tháng 5 ( màu hè ). Thời gian này chất dịch trong cây nhiều, dễ bóc vỏ, hoạt chất cao.
- Mầm, lá cây: Thu hái vào lúc mới nở hoặc đang nở, thời gian cây đang trưởng thành, lá xanh tươi ( mùa xuân, hè ).
- Hoa: Thú hái vào lúc hoa đang búp hay chớm nở để không rụng cánh.
- Quả: Thu hái lúc quả đã chín.
- Hạt: Thu hái lúc quả đã chín hoàn toàn.
- Gốc, củ, rễ,vỏ rễ: Thu hái vào mùa thu, đông: Thời kỳ này, mặt đất đã bắt đầu khô ráo, các chất dinh dưỡng, hoạt chất của cây dồn về gốc, rễ, củ nhờ đó dược lực của vị thuốc càng mạnh.
- Toàn cây: Thu hái vào lúc cây đang ra hoa.
b. Xử lý: Các vị thuốc thu hái về nếu dùng tươi ngay thì không cần phải xử lý. Nếu không dùng ngay đều phải được xử lý làm sao cho dược liệu khô kịp thời để giữ được phẩm chất, hiệu quả chữa bệnh .
Tùy theo chất và chủng loại của vị thuốc mà cách làm khô khác nhau như: Phơi trong râm ( âm can ), phơi nắng chói chang, hoặc hong, sấy ở nhiệt độ thấp, nhiệt độ cao.
- Các dược liệu là hoa, thường được phơi trong râm: để dược liệu nơi thoáng gió, không trực tiếp phơi nắng ( nếu phơi trực tiếp dưới ánh nắng chói chang, dược liệu sẽ mất màu xanh, biến sang màu vàng, hiệu lực giảm ).
- Các loại dược liệu có mùi thơm ( chứa tinh dầu ) phải phơi sấy từ từ ở nhiệt đọ thấp 25 - 30 oC.
- Các dược liệu chứa nhiều nước như quả, củ, rễ củ cần làm khô nhanh thì phải đem sấy nhiệt đọ 60 - 70 oC
3. Bảo quản:
- Các dược liệu sau khi xử lý xong cần bảo quản cận thận để sử dụng được lâu, không bị mốc mọt, biến chất, mất hiệu quả chữa bệnh.
- Các dược liệu phải được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát: Có biện pháp chống mối mọt, sâu bọ, chuột: Có ghi tiên đầy đủ từng loại dược liệu hay vị thuốc.
- Các vị thuốc có tinh dầu phải được bảo quản trong thùng hộp kín.
- Các thuốc lưu trữ trong kho cứ 3 tháng phải xông lưu huỳnh ( diêm sinh ) một lần đẻ sát trùng, chống nấm mốc, mọt. Về màu mưa, mưa dầm, công tác phơi sấy, xông lưu huỳnh phải đặt lên hàng đầu.
Tính năng của thuốc
Tinh năng của thuốc theo y học cổ truyền là căn cứ vào tác dụng dược lý của thuốc trong sự điều chỉnh Âm - Dương trong cơ thể con người bệnh.
Thầy thuốc dùng thuốc mạnh, yếu phù hợp với từng loại bệnh, từng giai đoạn bệnh, từng trạng thái cơ thể bệnh làm cho Âm - Dương trở lại bình thường ( cân bằng ) và người bệnh khỏi bệnh thì phải nắm được tính năng của thuốc.
Tinh năng của thuốc có: Tứ khí - Ngũ vị - Thăng, Giáng, Phù, Trầm - Dược vật quy kinh - Thất tình hòa hợp ... Nắm được tinh năng của thuốc, người thầy thuốc có thể sử dụng ( thay thế hoặc phù hợp ) các vị thuốc một cách linh hoạt.
I. TỨ KHÍ - NGŨ VỊ
1. TỨ KHÍ: Là 4 tính chất của thuốc. Đó là: Hàn - Nhiệt Ôn = Lương.
Hàn: Thuộc tính Hàn ( lạnh ) chữa bệnh Nhiệt
Nhiệt: Thuộc tính Nhiệt ( nóng ) Chữa bệnh Hàn
Ôn: Thuộc tính Ôn ( ấm hay hơi nóng ) tác dụng nhẹ hơn thuốc có tính Nhiệt.
Lương: Thuộc tính Lương ( mát hay hơi Lạnh ) tác dụng nhẹ hơn thuốc có tính Hàn.
Ngoài ra: Còn có loại thốc tính Bình, có tính chất tương đối hòa bình trong đó cũng có tính chất hơi hàn hay hơi nhiệt.
* Theo học thuyết Âm - Dương thì:
- Thuốc có tính chất Hàn, Lương thuộc Âm
- Thuốc có tính chất Nhiệt, Ôn thuộc Dương
* Vận dụng vào điều trị:
- Bệnh Ôn, Nhiệt phải dùng thuốc Hàn, Lương để chữa
- Bệnh Hàn, Lương phải dùng thuốc Ôn, Nhiệt đẻ chữa
Nếu sử dụng không đúng, chẳng chữa bệnh không khỏi mà còn nặng thêm.
Trong cuốn ' Thương hàn luận ' của Trương Trọng Cảnh ( thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên ) có ghi: Uống bài Quế chi thang ( thuốc dương nhiệt ) mà dương thịnh thì chết: Uống bài Thừa Khí thang ( thuốc hàn âm ) mà âm thịnh thì chết.
Do vậy khi dùng thuốc phải chú ý tới tính chất Hàn Nhiệt của thuốc.
2. Ngũ vị: Là chỉ 5 vị của thuốc
Năm vị của thuốc đó là:
Cay ( Tân ) - Chua ( Toan ) - Ngọt ( Cam ) - Đắng ( Khổ ) - Mặn ( Hàm).
Ngoài năm vị trên còn có vị Nhạt ( Đạm ). Tuy nhiên, y học cổ truyền thường quy Ngọt và Nhạt vào một, nên chỉ có năm vị.
Mỗi vị có tác dụng dược lý chữa bệnh khác nhau:
* Vị cay: Có tác dụng phát tán, hành khí, hóa ứ trệ: Ma hoàng - Quý chi - Sinh khương - Hương nhu - Kinh giới - Bạc hà ... Thì đuổi tà khí ở biểu: Trần bì - Hương phụ - Mộc hương - Sa nhân ... Thì hành khí khoan trung: Xuyên khung - Hồng hoa - Nga truật - Uất kim ... Thì hoạt huyết, hóa ứ trệ.
* Vị chua: Có tác dụng thu liễm, cố sáp như: Ngũ vị tử - Ô mai - Sơn thù - Kim anh tử - Tang phiêu tiêu ... Thì liễm hư hàn - sáp tinh khí, chỉ khát: Thanh bì - Kha tử - Ngũ bội tử - Bạch cập - Xích thạch chi cầm ỉa chảy, cầm máu, cầm mồ hôi ...
* Vị ngọt: Có tác dụng bổ dường, hòa hoãn như: Nhân sâm - Hoàng kỳ : Bổ khí: Thục địa - Mạch môn: Dữơng âm: Cam thảo: Hòa hoãn.
* Vị đắng: Có tác dụng tả hỏa, trừ thấp, táo thấp: Hoàng liên - Hoàng bá - Hoàng cầm - Chi tử ... Thì tả nhiệt: Đại hoàng: Thì tả thực nhiệt: Thương truật - Long đờm: Thì trừ thấp, kiện tỳ, khai vị.
* Vị mặn: Có tác dụng làm mềm chất rắn, dẫn thuốc đi xuống như: Hải tảo - Mẫu lệ - Miết giáp ... Làm tan đờm kết, tác dụng lao lịch, đàm hạch: Mạng tiêu thông táo kết, nhuận tràng, tả hỏa: Muối ăn nhuận tràng, dẫn thuốc đi xuống.
* Vị nhạt: Có tác dụng lợi thủy, thảm thấp như: Tỳ giải, Ý dĩ, Thông thảo, Phục linh, Trư linh ...
Theo thuyết Âm Dương thì:
Các vị: Cay - Ngọt - Nhạt thuộc Dương
Các vị: Chua - Đắng - Mặn thuộc Âm
Theo thuyết Ngũ hành thì:
Vị chua vào Can
Vị đắng vào Tâm
Vị cay vào Phế
Vị mặn vào thận
Vị ngọt vào tỳ
Tính năng của thuốc là do khí, ngũ vị hợp thành không thể tách rời nhau được. Mỗi vị thuốc đều có cả khí lẫn vị - đó là nguyên tắc chung.
Tuy nhiên, trong thực tế có vị thuốc khí giống nhau, nhưng vị lại khác nhau hoặc ngược lại nên cần phải chú ý trong khi sử dụng.
Thí dụ: Cùng thính Ôn nhưng Vị lại khác nhau như:
Sinh khương thì Vị cay tính ấm ( Tân - Ôn )
Hậu phác thì Vị đắng tính ấm ( Khổ - Ôn )
Hoàng kỳ thì Vị ngọt tính ấm ( Cam - Ôn )
Ô mai thì Vị chua tính ấm ( Toan - Ôn )
Hoặc cùng Vị khí lại khác nhau như:
Thạch cao thì Vị cay tính lạnh ( Tân - Hàn )
Bạc hà thì Vị cay tính mát ( Tân - Lương )
Can khương thì Vị cay tính ấm ( Tân - Ôn )
Phụ tử thì Vị cay tính nóng ( Tân - Nhiệt )
Hoặc có rất nhiều vị thuốc có một khí mà có mấy vị như:
Quế chi Vị cay, ngọt, tính Ấm
Sinh địa Vị đắng, ngọt tính Hàn ...
Tóm lại: Thuốc dùng trong y học cổ truyền rất phức tạp về khí vị, cho nên người thầy thuốc phải sử dụng rất khéo léo, phải nắm chắc tứ khí và ngũ vị mà ứng dụng linh hoạt.
Trong điều trị, rất ít chứng bệnh chỉ Âm - Dương - Hàn - Nhiệt đơn thuần mà có nhiều triệu chứng xuất hiện cùng một lúc, ví dụ trong chứng nhiệt.
Nếu là hội chứng nhiệt đơn thuần thì dùng thuốc tân lương giải biểu. Nhưng nếu là hội chứng nhiệt kết thì phải dùng thuốc khổ hàn, hàn hoặc hàn tả: Hoặc nếu nhiệt lại có kèm thêm chứng tân dịch hư tổn sinh ra hư nhiệt thì phải dùng thuốc cam, hàn để bổ tân dịch.
Cho nên người thầy thuốc biết Hàn dược trị Nhiệt chứng hay ngược lại thì nhiều khí chữa không khỏi bệnh được: Như tân dịch hư tổn mà sinh hư nhiệt lại dùng thuốc khổ hàn tả thực thì kết quả sẽ làm cho tân dịch càng hao kiệt, nhiệt tà nhân đó mà phát triển ra Táo làm cho bệnh ngày càng trở nên trầm trọng thêm.
II. THĂNG - GIÁNG - PHÙ - TRẦM
Là các dấu hiệu xuất hiện sau khi thuốc có tác dụng vào cơ thể chống lại xu hướng phất sinh bệnh, để điều chỉnh trạng thái bệnh lý của cơ thể, phục hồi sức khỏe.
- Thăng: Là chỉ tính đi lên của vị thuốc ( như: Thăng ma, Sài hồ ... )
- Giáng: Là chỉ tính đi xuống của vị thuốc ( như: Ngưu tất, Đồng tiện ... )
- Phù: Là chỉ tính phát tán của vị thuốc ( như: Quế chi, Phòng phong, Kinh giới ... )
- Trầm: Là chỉ tính lắng xuống có tác dụng thẩm lợi ( như: Đại hoàng, Phác tiêu ... )
Trên thực tế, Thăng và Phù cũng gần như nhau: Trầm và Giáng cũng khó phân biệt cho lên thường kết hợp "Thăng Phù" và "Giáng Trầm".
1. Mối quan hệ giữa Thăng, Giáng, Phù, Trầm với học thuyết Âm Dương:
- Những vị thuốc có tính chất Thăng, Phù thuộc Dương, có tác dụng đi lên, phát tán, khu phong, sơ tiết ôn lý ( phát tán ở ngoài, ấm ở trong )
- Những vị thốc có tính chất Trầm, Giáng thuộc Âm có tác dụng giáng nghịch ( Chống đi ngược lên ) thu liễm, thẩm lợi, tả hạ ( lợi tiểu, lợi mồ hôi, thông đại tiện ).
2. Mối quan hệ giữa Thăng, Giáng, Phù, Trầm với khí vị và thể chất nặng nhẹ của vị thuốc:
- Đứng về khí mà xét thì những vị thuốc Tân - Cam - Ôn - Nhiệt phần lớn là Thăng. Phù như: Quế chi, Sinh khương ...
Những vị thốc Khổ - Toan - Hàn - Lương phần nhiều là Trầm, Giáng như: Đại hoàng - Thược dược - Mẫu lệ ...
Đứng về thể chất mà xét thì những vị thuốc là hoa, lá và nhẹ phần lớn là thăng phù như: Bạc hà diệp - Đăng tâm - Thuyền thoái - Tân di - Thăng ma ...
Những loại là hạt, quả và nặng phần lớn là giáng trầm như: Tô tư - Chỉ thực - Chỉ xác - Thục địa - các loại kim thạch ( Chu sa - Thân sa - Từ thạch - Thạch cao ... )
Tuy vậy không phải là không có ngoại lệ như tất cả các loại hoa thì Thăng Phù nhưng riêng hoa Tuyền phúc thì lại Trầm Giáng, mặc dù Tuyền phúc hoa vừa là hoa lại vừa nhẹ.
3. Áp dụng tính chất thắng, giáng, phù, trầm trong khi dùng thuốc:
Trong lâm sàng việc dùng thuốc ngoài sự chú ý tới khí vị còn phải chú ý tới tính chất thăng, phù, trầm.
Nếu bệnh cần giáng thì không được dùng thăng phù như:
Bệnh đau đầu phải dùng các vị giáng nghịch như: Thạch quyết minh, Mẫu lệ chứ không được dùng các phát tán. Bởi vì dùng thuốc phát tán sẽ sinh ra kinh giật.
Nếu bệnh cần thăng lên như trường hợp thoát giang ( lòi dom ) sa dạ con, thoát vị bẹn ... Phải dùng các vị ích khí thăng dương như: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Thăng, Không được dùng thuốc trầm giáng ( khổ hàn, tả hạ ). Nếu dùng thuốc trầm giáng bệnh sẽ nặng thêm.
Thăng, Giáng, Phù, Trầm tuy là tinh chất tự nhiên của thuốc, tuy nhiên cũng có thể do người thầy thuốc tạo nên hoặc làm thay đổi đi trong bào chế hay trong phối ngũ như.
Dùng rượu tẩm, sao là đẻ dẫn thuốc đi lên.
Dùng muối tẩm, sao là để thuốc dẫn đi xuống.
Dùng một vị thuốc nào đó có tính thăng phù hay trầm giáng để dẫn thuốc ( dùng Cát cánh, Thăng ma để dẫn thuốc đi lên, Ngưu tất, Phác tiêu để dẫn thuốc đi xuống ).
III. Sự quy kinh của thuốc:
Quy kinh Đem tác dụng của vị thuốc liên hệ với ngũ tạng, lục phủ và các đường kinh lạc một cách chặt chẽ để nói nên tác dụng của vị thuốc có thể chữa được bệnh biểu hiện ở tạng, phủ, kinh lạc nào. Người thầy thuốc cần biết để sử dụng có hiệu quả trong điều trị.
Sự quy kinh của thuốc chủ yếu vẫn dựa vào tứ khí, ngũ vị, Thăng, Giáng, Phù, Trầm kết hợp với các thuyết ngũ hành, kinh lạc, tạng phủ của con người mà xây dựng nên.
Quy kinh với vịn thuốc người xưa thường dựa vào:
* Màu sắc, khí vị:
Sắc trắng, vọ cay thuộc kim vào phế và đại trường kinh.
Sắc xanh, vị chua thuộc hành mộc vào can và đởm kinh.
Sắc đen, vị mặn thuộc hành thủy vào thận và bàng quang kinh.
Sắc vàng, vị ngọt thuộc hành thổ vào tỳ và vị kinh.
Sắc đỏ, vị đắng thuộc hành hỏa vào:
Tâm và tiểu trường kinh.
Tâm bào lạc và tam tiêu kinh.
Đây là cách quy kinh sớm nhất nhưng đối với nhiều vị thuốc là không chính xác.
Ví dụ: Thương truật vị đắng lại quy vào kinh tỳ do tác dụng kiện tỳ táo thấp mà không quy kinh tâm.
Hà thủ ô vị ngọt lại quy vào kinh can, thận không quy vào kinh tỳ, vị.
A giao vị ngọt lại quy vào kinh phế, can, thân không quy vào kinh tỳ, vị.
Tuy nhiên sự quy kinh này có giá trị thực tiễn trong bào chế thuốc.
2 - Tác dụng trị bệnh của thuốc:
Các thầy thuốc căn cứ vào tác dụng trị bệnh của vị thuốc đối với một số hội chứng của một bệnh nhất định, quan hệ với kinh lạc, tang phủ nào đó để từ đó định ra thuốc chữa bệnh của tạng phủ, kinh lạc đó và quy kinh của vị thuốc đó.
Ví dụ:
- Các vị : Hành tăm - Tía tô đều có tác dụng tán phế hàn.
Cát cánh - Hạnh nhân đều có tác dụng trị ho, suyễn.
Nếu được sử dụng chữa bệnh ở phế và đều được quy vào kinh phế.
- Các vị: Bạch truật - Thương truật đều có tác dụng trị chứng thấp ở Tỳ.
Mộc hưng - Sa nhân - Trần bì đều có tác dụng tăng tỳ khí.
Nên đều được sử dụng chữa bệnh ở Tỳ và đều được quy vào kinh Tỳ
- Các vị: Thạch cao - Sài hồ đều có tác dụng chữa sốt nóng rét, ngực sườn đầy tức, miệng đắng ... Đó là thuộc hội chứng của bệnh Can - Đởm nên đều được sử dụng chữa các hộ chứng thuộc Can, Đởm và đều được quy vào Can kinh, Đởm kinh.
Tóm lại : Phần lớn
Các vị thuốc giải cảm quy vào kinh Phế: Thuốc an thần quy vào kinh Tâm: Thuốc chỉ khái hóa đàm quy vào kinh Phế: Thuốc tức phong quy vào kinh Can: Thuốc khái khiếu quy vào kinh Tâm: Thuốc hóa thấp quy vào kinh Tỳ, Kinh bang quang: Thuốc tiêu thực quy và kinh Tỳ: Thuốc hoạt huyết quy vào kinh Tâm hoặc kinh Can: Thuốc bổ quy vào kinh Tỳ, kinh Phế: Thuốc bổ âm quy vào kinh Phế, kinh Thận, kinh Tỳ v.v
Sự quy kinh của thuốc nay cũng chỉ là một sự tương đối. Tuy nhiên cách quy kinh này có giá trị thực tiễn trên lâm sàng.
Trên lâm sàng bệnh tật thường biểu hiện phức tạp, ệnh của tạng phủ này có thể làm ảnh hưởng tới tạng kia, nên lúc dùng thuốc không thể chỉ chọn thuốc của một kinh mà phải chọn thuốc của nhiều kinh khác. Ví dụ như bệnh thuộc phế mà phát hiện có kèm chứng tỳ hư thì phải dùng thêm thuốc quy kinh tỳ như Bạch truật - Bạch linh để bổ tỳ ích phế: hoặc chứng can dương vượng do thận âm hư thì phải dùng thuốc quy kinh thận để tư thận dưỡng âm như Huyền sâm - Sinh địa.
NGUYÊN TẮC DÙNG DƯỢC VẬT TRONG CHẨN ĐOÁN KÊ ĐƠN.
Đấy là vấn đề vô cùng quan trọng của y học cổ truyền, Người thầy thuốc không nhưng phải căn cứ vào yêu cầu điều trị mà còn phải nắm thật vững những hiểu biết cơ bản về tính năng của dược vật đối chiếu với bệnh trạng, dược tính để phối ngũ, tổ hợp thành bài thuốc ( phương dược hay phương tễ ) một cách linh hoạt, chính xác mới đem lại hiệu quả chữa bệnh chắc chắn, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người bệnh.
Tổ hợp thành một bài thuốc gồm các nguyên tắc sau:
A. PHỐI NGŨ TRONG MỘT BÀI THUỐC:
Căn cứ vào yêu cầu điều trị, và tinh năng dược vật, phép tắc điều trị mà tổ chức một bài thuốc gọi là sự phối ngũ. Khi phối ngũ các vị thuốc với nhau, có thể san sinh ra các tác dụng qua lại có lợi hoặc có hại như:
- Một số vị thuốc hợp lại thì hợp tác chặt chẽ, có tác dụng chữa bệnh tốt.
- Một số vị thuốc hợp lại thì mâu thuẫn, đối kháng với nhau, triệt tiêu hoặc làm giảm tác dụng của nhau.
- Một số vị phản khắc nhau, cùng uống sẽ sinh phản ứng gây tai biến điều trị.
Theo thần nông bản thảo và bản cương mục, sự quan hệ phối ngũ của Dược vật gọi là tổng quát là Thất tình hòa hợp. Thất tình hòa hợp trong phối ngũ là chỉ 7 tình huống có thể xảy ra cần được lưu ý là:
1. Đơn hành: Chỉ dùng 1 vị thuốc cũng có tác dụng trị bệnh như: Độc Nhân sâm thang, chỉ dùng 1 vị Nhân sâm liều cao để bổ khí, hồi dương.
2. Tương tu: Dùng 2 vị thuốc trở lên có tính năng tác dụng giống nhau hợp tác chặt chẽ với nhau sẽ nâng cao hiệu quả điều trị như: Tri mẫu hợp với Hoàng bá Thì tác dụng tư âm sẽ tăng lên - Hoàng kỳ hợp với Nhân sâm làm tăng tác dụng bổ khí của Nhân sâm, Địa hoàng dùng với Mạng tiêu thì tác dụng thanh nhiệt tả hạ càng mạnh.
3. Tương sứ: Hai vị thuốc có công năng chỉ chị khác nhau nhưng dùng chung với nhau hợp tác chặt chẽ với nhau thì có thể giúp nhau làm cho hiệu quả điều trị tốt hơn như: Hoàng kỳ ( bổ khí, lợi thủy ) dùng chung với Phục linh ( kiện tỳ, lợi thủy ), Phục linh làm tăng tác dụng của Hoàng kỳ. Hoàng cầm dùng với Đại hoàng. Đại hoàng làm tăng tác dụng thanh nhiệt tả hỏa của Hoàng cầm.
4. Tương húy ( úy ): Hai vị thuốc hợp lại thì hay bị vị kia ức chế làm giảm bớt độ độc và tác dụng phụ: Bán hạ có độc gây ngứa cổ nếu chế với Gừng tươi ( Sinh khương ) thì hết ngứa tức là Bán hạ húy Sinh khương.
5. Tương ố: Hai vị thuốc phối hợp với nhau thì kiềm chế nhau làm giảm hoặc mất tác dụng của nhau: Sinh khương dùng chung với Hoàng cầm - Hoàng cầm sẽ làm giảm tính ấm của Sinh khương. Hoặc Nhân sâm dùng chung với La bạc tử - La bạc tử sẽ làm giảm tacs dụng bổ khí của Nhân sâm.
6. Tương sát: Hai vị dùng chung vị này có thể làm giảm độc hoặc tiêu trừ phản ứng phụ của vị thuốc kia như: Sinh khương làm giảm độc tính của Bán hạ - Phòng phong giải độc Phê sương - Đậu xanh giải độc Ba đậu.
7. Tương phản: Hai vị dùng chung với nhau thì sinh ra độc hoặc tác dụng phụ mãnh liệt như: Ô đầu với Bán hạ - Cam thảo với Cam toại ...
Kinh nghiệm xưa cho hay khi phối ngũ theo tương tu, tương sứ là tốt nhất có tác dụng tăng hiệu lực điều trị - Trường hợp dùng một vị thuốc có độc cần phải khử độc. hoặc cẩn phải giảm độc thì dùng tương húy, tương ố, hoặc tương sát. Hai loại thuốc tương ố thì không nên dùng chung với nhau.
B. TỔ HỢP THÀNH MỘT BÀI THUỐC ( PHƯƠNG DƯỢC )
a. Phương dược của y học cổ truyền được tạo thành do sự phối hợp các vị thuốc dùng để chữa một bệnh một hội chứng bệnh hay một triệu chứng của bệnh.
Phương dược được tổ chức theo nguyên tắc nhất định nhưng được biến hóa bằng cách: Gia giảm vị thuốc, thay đổi phối ngũ, thay đổi liều lượng, thay đổi dạng hoặc cách bào chế ... Để thích hợp với tình hình bệnh trạng của mỗi người bệnh và yêu cầu của việc chữa bệnh trên lâm sàng.
Phương dược gồm có một vị thuốc gọi là Đơn phương.
Phương dược từ 2 vị thuốc trở nên gọi là phức phương.
Đơn phương thường dùng để chữa bệnh đơn giản, ở một vị trí nhất định, do một nguyên nhân nhất định.
Phức phương thường dùng để chữa bệnh phức tạp do nhiều nguyên nhân, có nhiều cơ quan, tạng phủ cùng mắc bệnh.
b. Một phương thuốc hoàn chỉnh được cấu tạo theo nguyên tắc:
Quân - Thần - Tá - Sứ
* Quân: Là vị thuốc chính hay còn gọi là Chủ dược, dùng để chữa nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng chính của hội chứng bệnh. Vị thuốc chính thông thường có từ 1 - 2 vị. Cũng có khi có nhiều vị ( 4 - 5 ). Vị Quân liều lượng thường nhiều hơn các vị thuốc khác trong bài thuốc.
* Thần: là vị thuốc tá, hỗ trợ cho vị Quân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
* Tá: Là vị thuốc chữa các triệu chứng phụ của hội chứng bệnh, hạn chế các tác dụng mãnh liệt hay tính độc hoặc làm tăng tác dụng của Quân.
* Sứ: Là vị thuốc có tác dụng tương đối mạnh vơi một tạng phủ hay kinh lạc nào đó, có thể dẫn thuốc đến dúng nơi có bệnh hoặc có tác dụng tham gia điều hòa tính năng các vị trong bài thuốc.
Trong phức phương thường có Quân Thần Tá Sứ rõ ràng: Song có bài thuốc chỉ có 2 vị: 1 vị giải quyết triệu chứng chủ yếu còn vị kia có thể là thần, là Tá, có thể là Sứ
Ví dụ:
1. Độc sâm thang: Chỉ có độc vị Nhân sâm với liều cao 40g.
2. Tả kim hoàn: Chỉ có 2 vị Hoàng liên với Ngô thù thì Hoàng liên là Quân, Ngô thù là Tá.
3. Thược dược cam thảo thang. Chỉ có vị Quân với vị Thần.
4. Ma hoàng quế chi thang gồm có: Ma hoàng - Quế chi - Hạnh nhân - Cam thảo. Có tác dụng chữa cảm phong hàn, với các triệu chứng: Sợ lạnh, sốt không có mồ hôi, ho, Ma hoàng có tác dụng phát tán phong hàn làm ra mồ hôi là Quân: Quế chi: Giúp Ma hoàng tăng tác dụng phát hãn giải biểu là Thần: Hạnh nhân có tác dụng trị ho, suyễn là Tá: Cam thỏa có tác dụng điều hòa các vị thuốc là Sứ.
5. Ôn kinh thang gồm có:
Ngô thù Đẳng sâm Đương quy Xuyên khung Bạch thược
Quế chi A giao Đan bì Sinh khương Cam thảo
Mạch môn Bán hạ Đạo táo
Có tác dụng ôn kinh tán hàn, bổ huyết khứ ứ, chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều, rong kinh cơ năng ( hư hàn )...
+ Ngô thù - Quế chi: Có tác dụng ôn kinh, tán hàn:
Đương quy - Xuyên khung: Có tác dụng dưỡng huyết điều kinh hoạt huyết khứ ứ nên 4 vị trên đây là Quân.
+ A giao - Bạch thược - Mạch môn: Có tác dụng giúp Đương quy dương huyết: Đẳng sâm có tác dụng bổ khí sinh huyết - nên 4 vị này là Thần.
+ Đan bì: có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ. Bán hạ - Sinh khương - Đại táo: Có tác dụng bổ trung, kiện tỳ vị ( tăng cường vận hóa thủy cốc và thông huyết ) do đó 4 vị này là Tá.
+ Cam thảo: Có tác dụng điều hòa các vị thuốc là Sứ.
6. Phương Lục vị gồm có:
Thục địa - Hoài sơn - Sơn thù - Phục linh - Trạch tả - Đơn bì.
Có tác dụng bổ can thận ( âm hư sinh nội nhiệt ).
+ Thục địa có tác dụng tư âm trấn tĩnh là: Quân.
+ Sơn thù có tác dụng dưỡng can, nhiếp tinh: Hoài sơn có tác dụng kiện tỳ, cố tinh. Các vị này là: Thần.
+ Trạch tả có tác dụng thanh tả thận hỏa: Đan bì có tác dụng thanh tả can hỏa: Phục linh có tác dụng thẩm lợi thấp nên các vị này vùa là Tá vừa là Sứ. .
C - SỰ BIẾN HÓA CỦA CÁC PHƯƠNG DƯỢC:
Sự biến hóa của phương dược có nhiều cách:
1 - Bằng cách gia giảm các vị thuốc thuốc:
Sự gia giảm các vị thuốc trong phương dược, được căn cứ vào tình hình triệu chứng hay hội chứng của một bệnh, với bệnh cảnh lâm sàng của từng người bệnh nhưng phương dược chính vẫn là hạch tâm.
Ví dụ:
Người cảm phong hàn có thêm chứng vật vã, rêu lưỡi vàng là bệnh đã vào lý thì phải dùng:
Phương Ma hoàng Quế chi gia thêm:
Thạch cao: Để thanh nhiệt trừ phiền.
Sinh khương, Đại táo: Để điều hòa dinh vệ.
Phương này còn được gọi là: Đại thanh long thang.
( Chú ý cũng phương này nếu bỏ bớt: Hạnh nhân - Quế chi thì gọi là Việt tỳ thang ).
2. Bằng cách thay đổi sự phối ngũ:
Vị Quân trong bài thuốc không thay đổi, nhưng các vị thuốc trong phối ngũ thay đổi làm tác dụng của bài thuốc thay đổi làm tác dụng của bài thuốc thay đổi theo:
Ví dụ:
Phương tả kim hoàn: Gồm có : Hoàng liên - Ngô thù có tác dụng thanh nhiệt, tả can hỏa: Chữa chứng đau dạ dày ợ hơi, ợ chua ( Can khí phạm vị ) trong đó:
Hoàng liên: Có tác dụng thanh nhiệt, tả tâm hỏa, tả can hỏa, vào hoành nghịch là Quân.
Ngô thù: Có tác dụng trừ nôn, ợ, giải uất, giáng nghịch: Hạn chế đắng lạnh của Hoàng liên nên vừa là thần vừa là Tá, Sứ.
Nếu phương tả kim hoàn thay Ngô thù bằng Mộc hương thì gọi là phương Hương liên hoàn: Hoàng liên - Mộc hương có tác dụng thanh nhiệt, hành khí: Chữa đau bụng, đầy bụng, sôi bụng, tả lỵ mót rặn. Trong đó:
Hoàng liên thanh nhiệt chữa lỵ nhiệt, đau bụng mót rặn là Quân.
Mộc hương có tác dụng hành khí chữa đau bụng, đầy bụng, sôi bụng là Thần và Tá, Sứ.
Hoặc phương: Đại thừa khí thang gồm: Đại hoàng - Mạng tiêu - Hậu phác - Chỉ thực.
Có tác dụng tẩy chữa nhiệt kết: Sốt cao, co giật, phát cuồng, táo bón.
Trong đó:
Đại hoàng có tác dụng thanh nhiệt, tả hạ, thông tiện, thanh trường là Quân: Mạng tiêu có tác dụng tả nhiệt, nhuận táo làm Thần: Hậu phác - Chỉ thực có tác dụng tiêu bĩ, hành khí, tiêu kết là Tá, Sứ.
Nếu phương thuốc này bỏ Chỉ thực - Hậu phác thêm Cam thảo thì gọi là Điều khí thang có tác dụng hòa hoãn hơn Đại thừa khí thang.
3. Bằng cách thay đổi của các vị thuốc trong phương thuốc
Một số phương thuốc cũng có số vị thuốc hợp thành nhưng lượng của các vị thuốc đó thay đổi làm cho vị thuốc chủ dược thay đổi, tác dụng chữa bệnh của bài thuốc và tên gọi cũng thay đổi.
Ví dụ các phương thuốc dưới đây:
Hoặc : Quế chi thang chữa ngoại cảm phong hàn có chứng biểu hư: Ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù hoãn dùng Quế chi và bạch thược lượng bằng nhau. Nếu dùng lượng Quế chi gấp bội thì trở thành bài: Quế chi gia qué thang thì có tác dụng sẽ là ôn dương, giáng nghịch chữa chứng dương hư tim hồi hộp hoặc chứng khí từ bụng dưới xông lên ngực.
Nếu dùng Thược dược gấp bội thì trở thành bài: Quế chi gia thược dược thang có tác dụng giải biểu hòa lý chủ trị biểu hàn hư chứng, bụng đầy chướng thỉnh thoảng đau.
4. Thay đổi dạng thuốc:
Tùy theo tình hình của bệnh tật và yêu cầu chữa bệnh của từng giai đoạn bệnh mà phương thuốc được dùng theo dạng bào chế khác nhau.
Bệnh cấp tính bệnh nặng thường dùng thuốc thang sắc vị thuốc sắc hấp thụ nhanh, để phát huy tác dụng để gia giảm các vị thuốc trong phương phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng.
Bệnh mạn tính hoặc bệnh ở giai đoạn cần củng cố kết quả chữa bệnh thì dùng các dạng thuốc tán, thuốc hoàn, thuốc rượu, thuốc cao, thuốc tễ ...
Ví dụ:
Chứng ngoại cảm phong nhiệt thể nặng, cấp phải dùng Ngân kiều tán bốc thành thang sắc uống - thể nhẹ thì có thể dùng ngân kiều tán ( dạng bột )
Hoặc chứng âm hư cần bổ:
Ở thể cáp tính dùng Lục vị thang sắc cho uống.
Ở thể hoãn thì dùng Lục vị hoàn hay tễ cho uống.
Tóm lại việc dùng các vị thuốc để tổ hợp thành những phương thuốc có hiệu quả trong chữa bệnh đòi hỏi người thầy thuốc phải tinh thông nghề nghiệp.
C - Cấm kỵ trong kê đơn thuốc và bào chế thuốc:
Cấm kỵ trong kê đơn, dùng thuốc và bào chế thuốc cổ truyền cần chú ý các mặt sau:
1. Cấm kỵ, trong bào chế
Có nhiều vị thuốc có nhiều chất kỵ kim lọai chế biến không dùng dao sắt, đồng mà dùng dao nứa hoặc tre như: Hà thủ ô đỏ, Nhân sâm và các vị thuốc có chứa chất chát.
Nhiều vị thuốc là hoa, lá chứa nhiều tinh dầu kỵ ánh nắng mặt trời hoặc lửa trực tiếp nên khi làm khô phải phơi âm can hoặc hong sấy hơi nóng ở nhiệt độ thấp 30 - 40 độ như: Cúc hoa - Kim ngân hoa - Tô diệp - Bạc hà diệp - Tang diệp ...
2. Cấm kỵ trong phối ngũ:
Y học cổ truyền có quy định 19 vị thuốc phản nhau, khi kê đơn không được kê chung một đơn. Nếu dùng chung sẽ gây phản ứng nghịch nhau không tốt được ghi trong Thân nông bản thảo đó là:
Cam thảo phản: Cam toại - Đại kích - Nguyên hoa - Hải tảo.
Ô đầu phản: Bối mẫu - Qua lâu - Bán hạ - Bạch liễm - Bạch cập.
Lê lô phản: Nhân sâm - Huyền sâm - Đan sâm - Sa sâm - Khổ sâm - Tế tân - Thược dược
Và 18 vị húy nhau nếu dùng chung với nhau đó là:
Lưu huỳnh húy Phác tiêu
Thủy ngân húy Thạch tín
Đinh hương húy Uất kim
Ba đậu húy Khiên ngưu
Lang độc húy Mật đà tăng
Nha tiêu húy Tam lăng
Thảo ô húy Tê giác
Nhân sâm húy Ngũ linh chi
Quế quan húy Xích thạch chi
3. Cấm kỵ:
Y học cổ truyền rất chú ý vấn đề kiêng kỵ khi có bệnh cũng như khi dùng thuốc. Khi có bệnh cũng như khi dùng thuốc cần chú ý các mặt sau:
a - Cấm kỵ khi có bệnh:
Trong khi có bệnh người bệnh phải tránh dùng một số thứ như: Thịt gà - Cá chép - Ba ba - Các chất cay nóng - Kích thích - Lạ bụng ...
b - Cấm kỵ khi uống thuốc:
Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm nhân dân thì trong thời gian uống thuốc cần phải kiêng một số thức ăn vì bản thân thức ăn cũng gây tác dụng tương phản như:
- Uống thuốc ôn trung khu hàn thì không ăn các thức ăn sống lạnh.
- Uống thuốc kiện tỳ giúp tiêu hóa thì không ăn thức béo, nhờn, tanh hôi và khó tiêu.
- uống thuốc trầm tĩnh, an thần tránh ăn uống các loại kích thích như ( rượu, chè, cà phê, thuốc lá...)
Hoăc khi uống thuốc thì không ăn đậu xanh, đậu đen, rau muống.
Bạc hà kỵ Ba ba. Phục linh kỵ dấm: Miết giáp kỵ rau dền: Kinh giới kỵ thịt gà: Cát cánh, Cam thảo, Hoàng liên, Ô mai kỵ thịt cho. Khi dùng thuốc các loại thuốc này thì nên kiêng loại kia.
c - Cấm kỵ trong khi dùng thuốc cho phụ nữ có thai:
Thuốc kiêng kỵ khi dùng thuốc cho phụ nữ có thai có 2 loại có ảnh hưởng đên thai nhi và người mẹ. Đó là:
+ Loại cấm dùng: Là loại có tác dụng mạnh hoặc độc như: Ba đậu - Ban miêu - Khiên ngưu - Đại kích - Manh trùng - Thương lục - Xạ hương - Thủy điệp - Thiềm tô - Ngô công - Qua đế - Cam toại - Nguyên hoa - Tam lăng - Nga truật - Thạch tín - Hùng hoàng - Thủy ngân - Khinh phấn v. v ...
+ Loại dùng cẩn thận: Bao gồm những loại hành huyết, phá huyết, thông kinh khừ ứ, hành khí phá kết, cay nóng như: Bán hạ - Can khương - Chỉ thực - Đại hoàng - Đơn bì - Chỉ xác - Hương phụ - Hồng hoa - Ích mẫu - Nhục quế - Lô hội - Quy vĩ - Mộc thông - Nhũ hương - Một dược - Đào nhân - Phụ tử - Lý nhân - Can tất - Đồng quỳ tử ...
Đây là những loại thuốc khi dùng có thể gây sẩy thai, có hại tới người mẹ và thai nhi. Do đó khi chữa bệnh cho phụ nữ phải tìm hiểu thật cụ thể tình hình: Kinh - Đới - Thai - Sản. Nếu người phụ nữ đang mang thai thì khi kê đơn phải xem xét kỹ hết sức thận trọng: Đã là thuốc cấm dùng thì tuyệt đối không được sử dụng - Nếu là thuốc dùng cẩn thận thì có thể sử dụng linh hoạt và cẩn thận hơn.
d. Đơn vị đo lường:
Đơn vị đo lường được sử dụng trong y học cổ truyền phương đông theo đơn vị đo lường cổ, nay được quy ra đơn vị đo lường quốc tế:
1 can ta ( 16 lạng ) = 0,5kg
1 lạng ta ( lượng ) = 31,25g
1 đồng cân ( tiền ) = 3,125g
1 phân = 0,3125g
1 ly = 0,03125g
Ở Việt nam để tiện tính toán trong kê đơn thường lấy 1 đồng cân bằng 4g.2. Liều lượng thuốc:
Liều lượng thuốc thích hợp trong điều trị của y học cổ truyền tùy thuộc vào các yếu tố sau:
a. Người bệnh:
+ Tuổi tác và giớ tính: Người cao tuổi, tỳ vị hư nhược, khí huyết suy, sử dụng nạp thuốc kém lượng thuốc nên ít hơn so với người ít tuổi tỳ vị tốt. Trẻ em 5 tuổi lượng bằng 1/4 của người lớn, trẻ dưới 1 tuổi lượng bằng 1/6 của ngươi lớn. Phụ nữ dùng ít hơn nam giới.
+ Trạng thái bệnh: Bệnh mới mắc liều dùng thiều hơn bệnh mắc lâu ngày: Bệnh cấp tính tiến triển mạnh dùng liều cao hơn bệnh mạn tính, tiến triển chậm: Bệnh lâu ngày cơ thể hư nhược cần dùng thuốc bổ, lượng phải bắt đầu ít và tăng dần để khỏi ảnh hưởng đến chức năng tỳ vị.
b. Thuốc:
+ Khí vị của thuốc: Thuốc khí vị bình, nhạt tác dụng hòa hoãn dùng lương nhiều: Thuốc khí vị nồng hậu, tác dụng mãnh liệt, tán kết, thông ứ phá huyết, tẩy xổ, trục thủy dùng lượng ít.
+ Tác dụng của thuốc: Thuốc giải biểu, phát tán lượng thường dùng ít: Thuốc khu hàn, thuốc bổ dương nên dùng lượng ít: Thuốc bổ âm có thể dùng lượng nhiều.
+ Thuốc có độc dùng lượng ít: Thuốc không độc dùng lượng nhiều hơn.
+ Thuốc là quả, rễ, củ lượng có thể dùng nhiều, thuốc là hoa, lá trọng lượng nhẹ lượng dùng ít. Thuốc là loại kim thạch, khoáng chất lượng dùng ít. Thuốc tươi lượng dùng gấp 2 - 3 - 4 lần thuốc khô.
+ Tóm lại liều lượng thuốc sử dụng trong điều trị phải tùy thuộc vào tình hình thể chất, trạng thái bệnh lý, vào tính năng dược vật mà tăng giảm cho thích hợp.
Ngoài ra cũng cần chú ý đến các yếu tố khác nữa như: Khí hậu, địa phương, tập quán ...
3. Cách dùng:
Cách dùng thuốc chủ yếu có 2 phần: Cách sắc thuốc và cách uống thuốc.
a. Cách sắc thuốc ( xem kỹ thuật sắc thuốc ở phần thang và kỹ thuật sắc thuốc thang )
b. Cách uống thuốc: Cách uống thuốc có ảnh hưởng nhất định đến hiệu lực của thuốc - Nên cần phải chú ý đến thời gian, cách uống và kiêng kỵ khi uống thuốc.
+ Thời gian uống thuốc:
Bệnh ở thượng tiêu uống sau khi ăn.
Bệnh ở trung tiêu, hạ tiêu uống thuốc trước khi ăn.
Bệnh ở kinh mạch, tứ chi uống thuốc vào sáng lúc đói.
Bệnh ở xương tủy uống thuốc vào buổi tối sau khi ăn.
Thuốc kích dạ dày, ruột uống sau khi ăn.
Thuốc an thần uống trước khi đi ngủ.
Thuốc chữa sốt rét uống trước cơn 2 giờ.
Thuốc chữa bệnh cấp uống trước khi cần, hoặc 4 - 5 lần ngày không kể đêm.
Thuốc cao đan hoàn tán chữa bệnh mạn tính uống theo giờ.
Thuốc bổ uống trước khi ăn.
Thuốc tả uống lúc đói.
c. Cách uống thuốc thang: Thuốc thang thường sắc uống ngày một thang. Một thang thuốc chia uống 2 hoặc 3 lần đẻ duy trì tác dụng. Thường hợp bệnh cấp thì uống hết một lần. Thuốc thang thường uống lúc còn ấm.
Thuốc trị chứng hàn nên uống lúc còn nóng.
Thuốc trị chứng nóng sốt nên uống lúc nguội.
Thuốc phát hãn, tẩy sổ uống thấy có hiệu quả phải ngừng thuốc ngay.
Thuốc có độc nên uống liều nhỏ trước để đảm bảo an toàn.
Thuốc chống nôn nên uống ít một và nhiều lần.
Trường hợp bệnh nhân hôn mê, để người bệnh nằm nghiêng và đổ thuốc từ từ hoặc cho sông dạ dày.
d. Kiêng kỵ khi uống thuốc: Xem phần cấm kỵ nói trên.
BẢNG CÁC THUỐC ĐỘC ĐÔNG DƯỢC
BẢNG A
1. Ba đậu ( hạt ): Hạt già phơi khô của cây Ba đậu ( Croton tigliumL. ) ho Thầu dầu ( Euphorbiaceae ).
2. Ban miêu ( cả con ): Con sâu ( Litta vesicatoria ).
3. Hoàng nàn ( sống ): Vỏ thân, vỏ cành của cây Hoàng nàn ( Strychnos gauthierana Pierre ) họ Mã tiền ( Loganiaceae ).
4. Mã tiền sống: Hạt của quả cây Mã tiền ( Strychnos nux VomicaL. ) Họ mã tiền ( Loganiaceae ).
5. Ô đầu: Củ mẹ chưa có củ con hoặc có củ con nhưng còn nhỏ của cây Ô đầu ( Acinitum fortunei Hemsl ) Họ Mao lương ( Ranunculacea ) hay của nhiều loài khác như ( Aconitum napellus Lin - Aconitum sinense Paxt - Aconitum cormichaeli Debx ) Họ Mao lương ( Ranunculacea ).
6. Phụ tử sống: Củ con của cây Ô đầu chưa muối ( Aconitum fortunei Hemsl ) Họ Mao lương ( Ranunculacea ).
7. Thạch tín ( Asenicum ): Chứa khoảng 98% Arsenicum crudum.
8. Thiềm tỏ ( Secretio Bufonis ): Nhựa cóc, mủ cóc.
BẢNG B
1. Ba đâu chế: Ba của hạt cây Ba đậu ( Croton tiglium L. ) Họ Thầu dầu ( Euphorbiacea ).
2. Hoàng nàn chế : Vỏ thân, của cây Hoàng nàn đã chế ( Strychnos gauthierana pierre ) Họ Mã tiền ( Loganiaceae ).
3. Hùng hoàng ( Có chứa khoảng 46% Arsenicum sulfuratum ).
4. Khinh phấn ( hydraagyri subchoridum mite ).
5. Mã tiền chế: Hạt của cây Mã tiền ( Strychnos - nux vomica L.) Họ Mã tiền ( Loganiaceae ) đã chế
6. Phụ tử muối: Củ con của cây Ô đầu ( Aconitum fortunei Hemsl ) Họ Mao lương ( Ranunculaceae ) đã muối ít nhất 6 tháng.
7. Thủy ngân ( Hydrargyrum ).
PHÂN LOẠI THUỐC CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN
( Phân loại dược vật )
Phân loại trong y học cổ truyền thay đổi tùy theo từng thời kỳ và tùy theo sự tiến bộ của y học và sự hiểu biết của loài người về vị thuốc.
Có nhiều cách phân loại:
- Phân theo Bộ ( theo hình thái ) như: Bộ thảo - Bộ mộc - Bộ quả - Bộ câm thú - Bộ kim thạch ... Mỗi Bộ lại chia nhỏ thành mấy loại nhứ Bộ thảo có: Sơn thảo - Phương thảo - Thấp thảo - Thủy thảo - Thạch thảo ...
- Phân theo tứ khí - Ngũ vị - Quy kinh.
- Phân theo tác dụng chữa bệnh như: Thuốc giải biểu - Thuốc khu hàn - Thuốc thanh nhiệt - Thuốc bổ huyết - Thuốc bổ khí ...
Gần đây các Công ty dược phẩm, các xĩ nghiệp dược phẩm phân loại theo thứ tự, vần chữ cái: A, B, C ...
Mỗi phương pháp phân loại đều có mục đích nhất định.
Phân loại theo Bộ ( hình thái vị thuốc ) hay theo vần chữ cái nhằm giúp cho người làm công tác sưu tầm, sản xuất, bảo quản và phân phối dễ tra cứu.
Phân loại theo khí, vị, tác dụng chữa bệnh nhằm giúp cho người làm công tác điều trị, bào chế dễ sử dụng.
Trong tài liệu này giới thiệu phân loại thuốc theo dụng chữa bệnh của y học cổ truyền.
Phân loại thuốc theo tác dụng chữa bệnh có thể chia Dược vật ra những loại chính sau:
I. THUỐC CHỮA CẢM MẠO:
Thuốc chữa cảm mạo của y học cổ truyền chia làm 2 loại lớn:
+ Thuốc giải cảm hay còn gọi là thuốc giải biểu.
+ Thuốc chữa sốt hay còn gọi là thuốc thanh nhiệt.
1. Thuốc giải biểu: Thuốc giải biểu là những thuốc có tác dụng trị các chứng ngoại cảm mới tà khí từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, có những triệu chứng: Sợ rét, phát sốt, đau đầu, cứng gáy, mình mẩy đau nhức sợ lạnh, không có mồ hôi hắt hơi, sổ mũi, mạch phù, rêu lưỡi mỏng ...
Thuốc giải biểu phần lớn có vị cay làm ra mồ hôi ( phát hãn ) làm cho tà khí theo mồ hôi thải trừ ra ngoài.
Thuốc giải biểu chia làm 2 loại:
+ Phát tán phong hàn hay còn giọi là Tân ôn giải biểu ( cảm hàn )
+ Phát tán phong nhiệt hay còn gọi là Tân lương giải biểu ( cảm nhiệt ).
a. Thuốc phát tán phong hàn ( Tân ôn giải biểu ):
Là những thuốc có vị cay ( Tân ) tính ấm ( Ôn ) có tác dụng chữa ngoại cảm phong hàn có các triệu chứng như: sốt nhẹ, gai rét, sợ lạnh nhiều, đau đầu, đau mình, có mồ hôi hoặc không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn.








Nhận xét